HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠỎ ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay
Quan điểm “Dân là gốc - thước đo cao nhất của mọi quốc sách” của Đảng ta đang kết trái nhiều thành tựu đầy hứa hẹn là nhờ đã kế thừa tư tưởng của Bác Hồ - nhà cách mạng vĩ đại suốt đời đau đáu một chữ “dân”. Ngày 05/4/1948, Bác viết bài báo lịch sử “6 điều không nên và 6 điều nên làm”, mở đầu bài viết là chân lý: “Nước lẩy dân làm gốc Để cổ động, Bác viết bài thơ: “Mười hai điều trên/Ai chả làm được/Hễ người yêu nước/ Nhất quyết không quên/ Tập thành thói quen/ Muôn người như một/ Quân tốt, dân tốt/ Muôn sự đều nên/ Gốc có vững, cây mới bền/Xây lầu thẳng lợi trên nền Nhân dân.

Tư tưởng lẩy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
-Ảnh minh họa: tapchilỉchsudang.vn
Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân
Xuất phát từ quan niệm “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân”, Bác dạy cán bộ tin dân: “Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều. Chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi”. Ở một lớp huấn luyện chuẩn bị khởi nghĩa năm 1945, Bác giảng bài, một đồng chí hỏi: “Ở miền núi lấy núi rừng làm căn cứ địa. Đồng bằng không có địa hình hiểm trở thì sao ạ?”. Bác trả lời: “Có núi dựa vào núi, có sông dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người làm sông núi... Ở đâu có người là ở đó có núi rừng, có biển cả, ta phải tổ chức, động viên sức mạnh của quần chúng thành rừng, thành biển mà dựa vào...”. Làm cách mạng phải lấy lòng dân làm “căn cứ địa”. Tư tưởng ấy đã có từ khi Bác mới bước chân vào con đường cứu nước: “Ý chí của Nhân dân - một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực - một ý chí còn mạnh hon và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi”.
Phải đền bù xứng đáng cho Nhân dân
Là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta, Bác Hồ khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Người nhắc nhở cán bộ qua những hình tượng cụ thể nhất: Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của Nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho Nhân dân. Thế giới ca ngợi Bác là một trong những lãnh tụ vì con người nhất. Sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập (02/9/1945) nước ta sa vào tình trạng kiệt quệ, vận nước mong manh, nhưng Bác vẫn ưu tiên hai nhiệm vụ cấp bách: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là tinh thần nhân văn cao cả, là tầm trí tuệ kiệt xuất trên cơ sở một tình yêu nước, thương dân lớn lao. Trong Di chúc, Bác đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm để nông dân “hỉ hả, mát dạ, mát lòng...”. Trao gửi niềm tin tuyệt đối, kính trọng tuyệt đối cũng là cách “đền bù”. Bác dặn Đảng ta: Tất cả lực lượng của đoàn thể và Chính phủ đều ở nơi dân. Cho nên việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt.
Quan niệm của Bác luôn biện chứng, hữu cơ: “Chính phủ Cộng hòa dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”. Chỉ mấy câu ngắn nhưng Bác đã 3 lần nhắc đến hai chữ “đày tớ” để nhấn mạnh bổn phận của Chính phủ. Hai lần nhắc đến hai chữ “phê bình” là nói về trách nhiệm của dân phải phê bình đúng đắn, nghiêm túc để Chính phủ tiến bộ. Lời dạy ấy hôm nay phải được thấm nhuần đến mỗi cán bộ, mỗi người dân!
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, phải thấm nhuần quan điểm “Nhân dân là gốc”
Tại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh luận điểm có tính nền tảng và xuyên suốt: “Dân là gốc” - thước đo cao nhất của mọi quyết sách. Đây là sự khẳng định ở tầm cao mới, trực tiếp gắn tư tưởng “lấy dân làm gốc” với yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị quốc gia và tổ chức thực thi trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Tổng Bí thư nêu rõ: Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thấm nhuần quan điểm “Nhân dân là gốc”, đặt lợi ích của quốc gia dân tộc, của Nhân dân lên trên hết, trước hết; phải thực sự nêu gương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong công tác; nói đi đôi với làm, làm việc gì chắc việc đó, hiệu quả, thiết thực.
Đảng ta chủ trương lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ là hoàn toàn đúng đắn. Trên thực tế, người dân có thể chưa hiểu sâu sắc đường lối, nghị quyết, nhưng qua tiếp xúc, làm việc với “cán bộ nhà nước”, họ sẽ có thái độ cụ thể về/với Nhà nước. Cán bộ công sở là “sứ giả” của Nhà nước nhưng là “công bộc” của dân. Nhà nước và dân là một, thì vai trò, trách nhiệm cán bộ công sở phải tăng gấp đôi, phải hiểu đường lối, chính sách, công việc Nhà nước, đồng thời phải trung thành, tận tụy với dân. Dân chưa hiểu, phải nói rõ. Dân chưa bằng lòng, phải hết mình.
Nếu văn hóa là bộ mặt của đất nước thì con người là bộ mặt của văn hóa, là gương mặt của chế độ. Văn hóa công sở không chỉ là các quy định hình thức mà là nền tảng quyết định hiệu quả quản trị, chất lượng công việc, là hình ảnh của cả một bộ máy nhà nước trước dân, rộng hơn là trước thế giới. Cán bộ công sở là người thay mặt Nhà nước đối thoại với dân, với doanh nghiệp, với quốc tế. Xu hướng chung của thế giới trong thời chuyển đổi số coi cán bộ công sở, về cơ bản phải bảo đảm: Chuẩn mực trong đạo đức công vụ; linh hoạt trong phong cách làm việc; tinh thần trách nhiệm cao. Một Nhà nước dân chủ, văn minh, ngoài quản trị bằng luật pháp còn thể hiện ở văn hóa làm việc khoa học, minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, nhân văn. Điều ấy thể hiện “trực quan” qua người cán bộ.
Hoàng Long-TTDVSNVC
CTTT SO 04 - 2026-F.pdf